(Mọi sự trùng hợp với những nhân vật và biến cố có thực đều hoàn toàn ngoài ý muốn của người viết)
Hội trường đã đầy người. Chủ tọa đoàn và thuyết trình đoàn từ hậu trường chậm rãi bước vào và trịnh trọng đến ngồi sau một chiếc bàn dài trải khăn nhung được đặt trên bục cao. Hai mươi mốt vị cả thảy. Phần lớn thuộc tinh hoa của giòng họ Đỗ, giòng họ vốn vẫn ngự trị trên nền truyền thông của nước Đại Nam ta. Người ta nhận ra ông Đỗ Tiến Đức, chủ tọa Đại Hội, đang sửa soạn đọc diễn văn khai mạc. Rồi quý ông Đỗ Thái Nhiên, Đỗ Việt Anh, bà Đỗ Thị Thuấn … Từ Nhật đến có ông Đỗ Thông Minh. Từ Canada có ông Đỗ Quý Toàn. Từ Đức, có Đỗ Ngọc và Đỗ Hoài Hương. Từ Pháp, có Đỗ Văn Trần, Đỗ Mạnh Tri, Đỗ Hoài Vân. Quốc nội được đại diện bởi ông Đỗ Hữu Đống, Đỗ Thuận Khiêm và bà Đỗ Thu Hương, dẫn theo một phái đoàn hơn 30 người.Cánh tả thì được đại diện bởi văn sĩ tài hoa Đỗ Khiêm và quý ông Đỗ Hữu Tài, Đỗ Mậu. Ngoài ra là vài người không thuộc Đỗ tộc, chẳng ai biết đến, và cũng ít ai để ý.
Ông Đỗ Ngọc Yến, chủ tọa Đại Hội năm ngoái, năm nay bận việc phải đi xa, nhưng cũng gửi thông điệp chào mừng Đại Hội, được đọc ngay lúc khai mạc buổi lễ, dưới những tràng pháo tay vô cùng nhiệt liệt.
Một phần không nhỏ công chúng hiện diện cũng thuộc Đỗ tộc. Nơi hàng ghế danh dự, người ta thấy nhà phân tích kinh tế Đỗ Nam Hải, nhà bình luận thời cuộc lừng danh Đỗ Anh Tuấn, vị đề đốc không chịu hồi hưu Đỗ Hòa Bình, webmaster vô cùng nổi tiếng Đỗ Thiện Mỹ, nhạc sĩ tài ba Đỗ Tuệ, và nhiều nhân vật khác : đạo diễn, nhà sản xuất phim, nhà xuất bản, phát hành, kịch tác gia, nhà văn, nhà soạn nhạc v.v… Họ đều có những vai trò quan trọng liên hệ đến lãnh vực truyền thông. Thí dụ như vị webmaster vừa được nhắc đến chính là người điều hành mạng lưới quan trọng nhất của người Việt trên thế giới, bao gồm những diễn đàn, sách, báo, phim ảnh, nhạc, radio, v.v… qua hệ thống liên mạng được chiếu cố nhiều nhất ở cả trong nước lẫn hải ngoại, với hàng trăm ngàn người tham khảo mỗi ngày. Còn vị « đề đốc không chịu hồi hưu » thì là một nhân vật gây nhiều chú ý vì luôn quả quyết mình vẫn còn là quân nhân tại ngũ, với lý do ông chưa từng bao giờ nhận được lệnh giải ngũ, hay giấy phép hồi hưu ! Ông không ngừng nỗ lực đòi hỏi quân lực Hoa Kỳ phải trả lại cho ông, vị sĩ quan duy nhất còn tích cực phục vụ trong binh chủng, những chiến hạm họ đã sang đoạt của Hải Quân VNCH vào những ngày sau 30 tháng tư 1975 … Bên cạnh công việc có tính cách nền tảng này, ông là một nhà văn, nhà thơ, với rất nhiều sáng tác độc đáo …
Sau các hàng ghế danh dự là những người làm truyền thông khác, bao gồm các văn sĩ, thi sĩ, ký giả, thư ký, quản trị viên … không thuộc Đỗ tộc. Rồi đến đám phó thường dân, trên răng dưới dế, thấy rậm đám mò đến « góp vui ».
Trong diễn văn khai mạc, vị chủ tọa chào mừng các đại diện, phần lớn thuộc họ Đỗ, của mọi ngành truyền thông, từ báo chí « cổ điển », nhật báo, tuần báo, nguyệt san, các đài truyền thanh và truyền hình, cho đến các website, webcast, forum, blog, Podcast, v.v… tức các phương tiện truyền thông của tương lai. Rồi ông giới thiệu những dự án sẽ được trình bày trong Đại Hội, bao gồm một dự án E book, dự án chụp bằng scanner tất cả sách vở Việt ngữ để lập nên một « ngân hàng dữ kiện » khổng lồ, dự án soạn một « tự điển thông minh » tiếng Việt, và một dự án « truyền thông » không ngôn ngữ, tất cả đều do những chuyên viên lỗi lạc, đương nhiên là thuộc Đỗ tộc, thực hiện. Ngoài ra, để thêm phần hấp dẫn, Ban Tổ Chức cũng dự trù cống hiến các tham dự viên cũng như khán thính giả theo dõi Đại Hội qua trực tiếp truyền thanh và truyền hình, vài cuộc phỏng vấn đặc biệt, có liên hệ đến các đề tài thời sự quan trọng. Rồi, dưới những tràng pháo tay rúng động hội trường, ông nhường lời lại cho người điều khiển chương trình của ngày đầu tiên …
---0---
Chủ đề của Đại Hội là viễn tượng của các ngành truyền thông. Bài thuyết trình đầu tiên lập tức đi thẳng vào đề tài khi vẽ lên tầm quan trọng của truyền thông trong tương lai.
Diễn giả hùng hồn biện giải suốt 30 phút, đại ý như sau :
Với những phương tiện càng ngày càng tân tiến các ngành truyền thông sẽ thu ngắn những khoảng cách giữa con người, sẽ đẩy lùi dốt nát, sẽ làm phát triển ý thức tự do dân chủ, đánh nhào các chế độ độc tài, góp phần đem lại hạnh phúc ấm no cho nhân loại , v.v… và v.v…
Đương nhiên là ông được mọi người hiện diện hoan nghênh hết mình.
Sang phần thảo luận, trong khi nhiều nhân vật tên tuổi đang lên tiếng tán dương khen ngợi sự sáng suốt của diễn giả, thì bỗng một câu nói vang lên :
- Truyền thông tân tiến các anh ấy à ? Chỉ để lấp đầy khoảng trống giũa những tiết mục quảng cáo !
Người lên tiếng là một vị lớn tuổi trong Đỗ tộc. Mọi người sửng sốt. Đám khán giả « phó thường dân » thấy sắp có chuyện cãi vã, khoái chí nhăn răng cười nham nhở, chờ ông cụ nói tiếp.
- Xin cụ cho biết tôn ý ?
- Này ! Cái ấy chẳng phải là « tôn ý » của tôi đâu. Là lời của ông Patrick Le Lay, Giám Đốc đài truyền hình TF1, đài lớn nhất của Pháp đấy ! Để tôi đọc cho các cậu nghe. Ông ta bảo : « trong bản chất, sứ mạng của chúng ta là phục vụ việc tiêu thụ hàng hóa, như Coca Cola chẳng hạn. Các chương trình của chúng ta nhằm mục đích làm cho bộ óc của khán giả luôn túc trực trong một trạng thái sẵn sàng thu nhận những thông điệp tiêu thụ. Điều mà chúng ta bán cho Coca Cola chính là trí não được điều kiện hóa của khán giả. Thật ra, rất khó duy trì tình trạng luôn sẵn sàng đón nhận các thông điệp tiêu thụ. Vì thế chúng ta luôn phải canh tân, phải tìm ra những chương trình mới mẻ, đồng thời chạy theo những trào lưu, những khuynh hướng xu thời, trong một bối cảnh luôn biến động ».
- Nhưng, thưa cụ , đó chỉ là lý thuyết của bọn con buôn, không phải của người làm truyền thông chính đáng !
- Tôi không tin như vậy. Truyền thông chính đáng các anh không phải kiếm tiền à ? Không phải nuôi vợ con à ? Không thích làm giàu sao ? Các anh là những xí nghiệp, phải sanh lợi, phải phát triển, nếu không các anh sẽ chết, sẽ bị đứa khác đè bẹp, rồi nuốt mất ! Vì thế, rốt cuộc các anh cũng sẽ phải bán cái thời gian túc trực của não bộ các khán thính giả của các anh cho Coca Cola hay một nhãn hiệu thương mại nào khác. Rồi, không những bán, các anh còn tình nguyện làm việc miễn phí cho các thương hiệu ấy ! Các anh có biết hai màu đỏ trắng trên y phục của Ông Già Noël ở đâu ra không ?
- Xin cụ cho biết …
- Coca Cola đặt ra đấy ! Hoàn toàn lịch sử. Các anh có thể kiểm chứng … Mỗi khi các anh đưa hình ảnh ông già Noël ra là các anh tích cực phục vụ cho Coca Cola đấy !
- Sợ rằng cụ nói hơi quá ! Tuy nhiên, giả sử chúng ta thực sự có khuynh hướng phục vụ nhu cầu tiêu thụ đi nữa, thì, thưa cụ, giới truyền thông chúng ta hoàn toàn vẫn thi hành được một cách trọn vẹn sứ mạng thông tin và nâng cao trí tuệ của xã hội. Không có gì ngăn trở chúng ta vừa làm giàu vừa thành công trong sự nghiệp cao quý ấy.
Các nhà truyền thông hiện diện hài lòng thở phào nhẹ nhõm. Danh dự của ngành truyền thông vừa được cứu vãn dù cho có phải cấu kết với xã hội hàng hóa. Còn đám xê lố cố trong hàng ngũ khán giả thì tưởng sắp được xem một màn đấu khẩu nãy lửa, nay lộ vẻ thất vọng rõ rệt.
Bỗng dưng, một người trẻ tuổi, có lẽ còn là sinh viên, ngồi giữa các con cháu của giòng họ Đỗ, rụt rè lên tiếng :
- Thưa chú … Sợ rằng sự thật sẽ hơi khác.
- Khác ra sao ?
- Dạ. Để thực hiện sứ mạng chiếm hữu tâm trí của người đọc, người nghe, hay người xem, nhà truyền thông hiện đại bắt buộc phải đồng loạt hóa các thông điệp của mình. Tức là phải làm sao cho người đọc, nghe, hay xem, phải suy nghĩ theo cùng chiều hướng, như một bầy cừu, không còn tính cá biệt.
- Tôi không thấy điều gì bắt buộc chúng ta phải làm như vậy.
- Thưa, đó là tiến trình « vô sản hóa » người tiêu thụ. Ở thế kỷ trước, một phần lớn người lao động là những người « vô sản » tức những người chỉ có vốn liếng duy nhất là sức lao động. Thậm chí mọi sáng kiến, tay nghề, mà họ có được ở giai đoạn tiểu công nghệ trước đó, đều đã được thoái nhượng cho các nhà máy. Ngày nay, ở những nơi mà người lao động có được một lợi tức đủ để họ trở thành những người tiêu thụ, thì đến lượt tài sản tinh thần và trí tuệ của họ dần dần bị tịch thu. Đó là tiến trình « vô sản hóa » tài sản tinh thần và trí tuệ của người tiêu thụ.
Ông cụ gật đầu tỏ vẻ đồng ý :
- Đúng vậy. Giữa người tiêu thụ Hoa Kỳ, Pháp, Việt Nam, Ấn Độ, hay Trung Hoa, chúng ta không thấy khác biệt bao nhiêu . Cũng ăn mặc như nhau, cũng vung vẩy điện thoại di động, chiều thứ bảy đẩy xe vào siêu thị mua cùng loại hàng hóa …
- Rồi bước ra rủ nhau đi ăn fast food … (một vị khác nói hùa theo)
- Truyền thông hiện đại có sứ mạng phá vỡ những sự cá biệt. Kết quả là đồng loạt hóa người tiêu thụ, khiến họ sẵn sàng nhất loạt đón nhận những chương trình truyền thanh, truyền hình, sách báo … có bổn phận chiếm hữu và điều kiện hóa tâm trí của họ, giữa hai tiết mục quảng cáo.
- Mặc dầu vậy, tôi vẫn không thấy điều gì ngăn cản sứ mạng nâng cao dân trí và phổ biến các tư tưởng dân chủ tự do, của giới truyền thông chúng ta. Nếu mọi người nhất loạt đi theo con đường dân chủ, nêu cao lý tưởng tự do, thì càng tốt chứ có sao !
- Thưa chú, viễn tượng này có hơi vấp phải một khó khăn lý thuyết. Số là xã hội dân chủ tự do hiện đại bắt nguồn từ tiến trình cá biệt hóa các thành viên của nó. Các nhà tư tưởng cổ Hy Lạp đã khởi đi từ mâu thuẫn mầu nhiệm giữa Nhứt Thể và Vạn Hữu, để đi đến quan niệm thực tại như một cái gì có thể nắm bắt được bằng suy tư, và đồng thời cũng có thể được biến đổi bằng suy tư. Đó chính là nguồn gốc của khái niệm Chính Trị, như khả năng biến đổi thực tại. Khái niệm chính trị, vì thế, khai nguồn nơi mỗi cá nhân, với nền tảng là tính cá biệt. Cho nên mới cần đến sự đồng thuận, dân chủ, để cho những cá nhân, mặc dù những suy tư cá biệt của mình, vẫn có thể hợp tác trong việc thay đổi thực tại. Xóa bỏ tính cá biệt nền tảng ấy cũng chính là xóa bỏ nền tảng của xã hội dân chủ tự do …
Cả hội trường vỗ tay rầm rộ. Người trẻ tuổi khoái chí, dơ tay cảm ơn các ủng hộ viên của mình và, với một thái độ tự tin hơn, hồ hỡi lao vào những giải thích thao thao bất tuyệt :
- Xã hội tiêu thụ hiện đại tìm cách xóa bỏ tính cá biệt nơi mỗi con người, vì nhu cầu đồng loạt hóa của guồng máy sản xuất, và của hệ thống phân phối cũng như tiêu thụ hàng hóa. Một xí nghiệp tân tiến cần hiện diện không những ở Hoa Kỳ mà còn ở Đức, Pháp, Úc, hay Trung Hoa. Vì thế, cần phá bỏ những hàng rào « cá biệt » giữa các nền văn hóa này. Các hàng rào « cá biệt » khác, giữa các cá nhân, cũng phải bị phá bỏ vì lý do tương tự. Mặt khác, một trong những nền tảng của tính cá biệt là Niềm Tin. Niềm tin chủ quan của con người hiện đại đã bị thay thế bằng sự tín nhiệm có tính toán, và có tính cách đồng loạt, phổ quát, của kinh tế thị trường. Trên tờ dollar, với hàng chữ « in God we trust », người ta không « TIN » Chúa theo nghĩa chữ « believe », mà người ta tín nhiệm một cách có tính toán vào Thiên Chúa, theo nghĩa chữ « trust ». Thiên Chúa, theo nghĩa Đấng được TIN bằng một Niềm Tin chủ quan, không tính toán, đã chết, như Nietzsche đã khẳng định. Kết quả là, với sự chết của Thiên Chúa, xã hội tân tiến bước vào chủ nghĩa HƯ VÔ. Cần hiểu là thị trường đặt nền tảng trên tính toán nên cần sự tín nhiệm có tính toán, chứ không cần Niềm Tin trừu tượng. Sự tín nhiệm có tính toán tự gán cho mình một nhãn hiệu khoa học, nên mang tham vọng phổ quát và khả năng đồng loạt hóa. Thí dụ như cần làm cho càng nhiều người tiêu thụ càng tốt, nhất loạt tín nhiệm và trung thành với một nhãn hiệu hàng hóa … Trong khi đó, Niềm Tin chủ quan đưa đến những chọn lựa cá biệt. Điều quan trọng là : tiêu diệt Niềm Tin ấy chính là tiêu diệt ý niệm tương lai. Tương lai không nhất thiết tương đồng với những dự phóng được tính toán. Tương lai chủ quan là ước vọng, là giấc mơ, là cảm hứng của nhạc, của thơ, là tia sáng trong ánh mắt trẻ thơ. Hiểu theo nghĩa ấy, « tương lai » hoàn toàn không trùng hợp với những dự phóng được lạnh lùng tính toán, dựa trên những chắp vá của hiện tại. Cũng đừng quên : tương lai tuyệt đối không gì khác hơn là thời gian sau Sự Chết. Không thể tính toán. Không thể dự phóng. Một hố thẳm. Vực thẳm của Hiện Hữu. Vượt qua được vực thẳm ấy, cần có Niềm Tin. Thiếu Niềm Tin này, thì hiện hữu chỉ là một con dốc trơn trượt đưa thẳng xuống một vực sâu không đáy. Kết quả là sự trống vắng của cuộc sống, suy sụp tinh thần, tuyệt vọng, buồn chán, Hư Vô chủ nghĩa … Đâu là ý nghĩa của cuộc sống khi nó chỉ đưa đến một vực sâu không đáy ? Sống để làm gì ? Chỉ để tiêu thụ ? Khổ nỗi : vì không có câu trả lời nào khác, con người hiện đại chẳng có thể làm gì hơn là chỉ biết lao vào tiêu thụ …
Mặc dù ít ai hiểu rành những lý luận quanh co khúc mắc của anh chàng này, người ta vẫn vỗ tay rầm rộ. Một cách để cho cu cậu ngừng nói …
Người điều khiển chương trình vội vã tóm tắt cuộc tranh luận để tránh những cãi cọ cù cưa :
- Xin cảm ơn những đóng góp rất hữu ích của quý bác và quý anh. Chúng ta có thể rút ra một bài học là xã hội hàng hóa hiện tại có khả năng đưa ngành truyền thông đến một tư thế hoàn toàn lệ thuộc vào sự thúc đẩy tiêu thụ. Để hạn chế tình trạng này, có lẽ không có cách nào khác hơn là một chính sách truyền thông rõ ràng, nhằm khuyến khích những phương tiện truyền thông thuận lợi cho sự phát triển tính cá biệt nơi mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng. Chúng ta sẽ có dịp bàn sâu vào vấn đề này khi đề cập đến những đề tài kế tiếp của Đại Hội.
---0---
Buổi trưa hôm ấy, nhân việc Việt Nam vừa gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế, Đại Hội cống hiến các tham dự viện và khán thính giả trực tiếp truyền thanh và truyền hình hai cuộc phỏng vấn trực tiếp.
Đầu tiên là Tổng Thống Hoa Kỳ G.W.Bush, người đã bỏ nhiều công sức vận động cho việc này. Không có gì đặc biệt đáng bàn. Những « phản ứng » đã được sửa soạn sẵn từ lâu. Quanh các vấn nạn về nhân quyền, dân chủ, bài trừ tham nhũng v.v… Tổng Thống cho rằng cứ để các « thần dược » thị trường tự do và phát triển kinh tế tự động giải quyết. Về tương quan với Trung Quốc, Tổng Thống cho rằng Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế WTO sẽ bảo vệ quyền lợi của Việt Nam một cách hữu hiệu hơn. Hỏi rằng nếu các xét xử không công bằng của tòa án Mỹ đối với vài sản phẩm nhập cảng từ Việt Nam được xử lại bởi WTO, Hoa Kỳ có sẵn sàng công nhận các phán quyết ấy hay không, Tổng Thống không trả lời.
Cuộc phỏng vấn thứ hai nhằm vào một người Việt Nam sống giũa ruộng đồng Chắc Cà Đao. Ông ta già đến nỗi không còn ai nhớ tuổi. Tên ông cũng không mấy người biết, chỉ gọi ông là Thày Tư Bảy Núi (Thời Luận đã đăng một bài về ông, có thể xem ở http://perso.orange.fr/nguyen.hoai.van/Thay-Tu-Bay-Nui.htm).
- Thưa cụ, Việt Nam vừa gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế, cụ có biết không ?
- Biết !
- Cụ nghĩ sao ?
- Tốt !
- Đời sống dân chúng miền Tây sẽ thay đổi ra sao ?
- Bỏ ruộng vườn đi làm thợ …
- Như vậy là tốt ?
- Làm ruộng cực quá ! Mùa màng thất thường. Thuế má nặng nề. Giá cả trồi xụt. Lụt lội hoài hoài, không kể nước mặn lấn đất trồng trọt. Tại ba cái đập trên thượng nguồn sông Cửu Long …
- Xã hội Việt Nam sẽ biến dạng ?
- Thì thành Tư Bản thứ thiệt.
- Như vậy theo cụ cũng là một điều tốt ?
- Tư bản thiệt ra không làm sao tránh nổi, nhưng khổ cái là ai thèm nhào dzô đó bảo vệ cho người nghèo. Riết rồi sẽ bóc lột như thời ông Mác bên xứ Hồng Mao. Hổng chừng ổng nóng ruột ổng đầu thai trở lại …
- Tuy nhiên nói chung, đời sống người dân sẽ lên cao ? Vì thế cụ cho là tốt ?
- Cũng ngặt lắm, cậu ơi ! Thời tư bản, có vốn tư bản thì giàu càng giàu, không vốn thì tiếp tục mạt rệp. Chưa kể cái thời kỹ thuật tân tiến mà không biết xài máy móc, điện tử, vi tính, kia nọ, không quậy được trên mạng lưới toàn cầu, chữ Anh chữ Mỹ không rành, thì làm sao chạy đua được với người ta. Riết rồi như Ấn Độ, chung chung thì phát triển nhưng cách biệt giàu nghèo vẫn gia tăng.
- Còn viễn tượng dân chủ hóa đất nước ?
- Nói thiệt với cậu, dân chủ hay không thì đám dân nghèo cũng nằm dưới chịu đựng. Ê ! thằng Ba ! mày muốn làm chủ đất nước không mậy ?
- Dạ muốn.
- Chủ làm sao, nói nghe coi ?
- Dạ, thì mình đánh đuổi ngoại bang, cho dân mình làm chủ đất nước.
- Hổng phải chuỵện đó ! Mày có muốn làm chủ chuyện xây cầu xây cống, làm nhà máy chỗ này chỗ khác, đặt ra thuế này thuế nọ, mày chịu làm không ?
- Dạ, ông Tư nói dỡn, biết gì mà làm chủ mấy thứ đó?
- Dzậy, mày biểu chính quyền dân chủ là cái gì ?
- Thì là chính quyền thương dân, lo cho dân. Bộ hổng phải dzậy sao ?
- Chắc dzậy. Còn mấy ông tranh đấu đòi đa đảng này nọ, thằng Ba mày chịu đi theo mấy ổng không ?
- Dạ mấy ổng giỏi, mấy ổng tranh đấu dành dựt chính quyền, mình dốt, biết gì tham gia. Đa đảng, hổng đa đảng gì cũng mấy ổng với nhau, mình dân nghèo cầu trời cho có chính quyền biết làm cho dân đỡ cực dzậy thôi.
- Thay vì cầu trời, anh Ba có thể đùng đến lá phiếu, bầu cho người chính trực thanh liêm, biết lo cho dân …
- Anh ơi ! Người làm chính trị thì cũng như mình dz ậy thôi. Họ cũng lo cho họ trước, lo cho người khác sau. Biết ai mà bầu ? Trước sau gì thì cũng phải cầu xin Thày Tổ, Trời Phật soi sáng trước khi đi bầu, anh ơi !
- Thì thằng Ba mày bầu theo mấy ông chức sắc trong Đạo. Mấy ổng cầu Phật, cầu Tổ sẵn rồi …
- Dạ, ông Tư nói đúng. Như dzậy mới thiệt chắc ăn !
---0---
Bài thuyết trình kế tiếp nhằm vào một vài phương tiện truyền thông tân tiến tiêu biểu, như sách điện tử E Book. Thuyết trình viên, một nhà khoa học lỗi lạc tên là Đỗ chi đó, sau những biện luận mạch lạc, đã đi đến kết luận rằng sách vở bằng giấy sẽ phải nhường chỗ cho sách điện tử E Book :
- Ngày nay người đọc không còn theo dõi một câu chuyện hay tham khảo một tài liệu theo một đường thẳng từ đầu đến cuối nữa. Đọc giả hiện đại và tương lai cần được kết nối với những kiến thức xoay quanh tài liệu hay câu chuyện mình đang đọc. Vào bất cứ lúc nào người ấy cũng có thể có nhu cầu nhảy sang một tài liệu khác, đi tìm một đinh nghĩa, hay tham khảo những bài vở khác liên hệ đến một nhân vật, một khái niệm, một dữ kiện nào đó. Điều này chỉ có thể thực hiện được với sách điện tử E Book, được nối thường trục vào mạng Internet.
Một câu hỏi lập tức được đặt ra :
- Theo anh, thì trở ngại nào khiến E Book chưa được phổ biến ?
- Tôi nghĩ có lẽ có ba trở ngại chính. Một là đọc sách điện tử hiện vẫn chưa được thoải mái lắm. Độ chói của màn ảnh khiến người ta mau mỏi mắt hơn đọc sách báo thường. Thứ hai là sách điện tử vẫn còn cồng kềnh hơn sách báo bằng giấy, do « phần cứng » vẫn chưa được thu nhỏ tối đa, battery còn quá to lớn, nặng nề. Và thứ ba là giá thành còn hơi cao. Tuy nhiên các khó khăn này có nhiều triển vọng sẽ được giải quyết trong vài năm nữa.
- Đâu sẽ là chỗ đứng của Việt Nam ta trong lãnh vực này ?
- Nếu chúng ta biết ý thức tầm quan trọng của E Book, và tích cực nghiên cứu để tìm ra những giải pháp cho các khó khăn kỹ thuật hiện gặp phải, thì chúng ta sẽ dẫn đầu một giai đoạn nền tảng của văn minh nhân loại.
- Anh có hơi phóng đại quá hay không ?
- Không đâu ! Mỗi giai đoạn của nền văn minh nhân loại đều có một phương tiện truyền đạt kiến thức đặc thù. Thí dụ ở thời chữ viết phôi thai, người ta dùng bia đá, rồi khắc chữ trên gỗ. Derrida cho là ở cuối thời đại ấy, khi người du mục Do Thái bắt đầu biết dùng loại sách cuộn, thì đồng thời họ cũng phát minh ra thuyết Độc Thần, sau này đẻ ra văn minh duy lý và cả thuyết … vô thần !
- Vì sao sách cuộn lại đẻ ra thuyết Độc Thần ?
- Thế này. Các bia đá không thể nào vác đi chỗ này chỗ khác được. Các truyền thuyết tôn giáo ghi trên đó chỉ có thể ngự trị tại chỗ. Người du mục đi từ nơi này sang nơi khác bị bắt buộc phải thờ phượng các vị Thần khác nhau. Kết quả là một mặt họ không được coi như những « tín đồ thuần thành » nên bị dân địa phương kỳ thị. Mặt khác niềm tin của họ vào các vị Thần « địa phương » không tránh khỏi bị lung lay khi mà, ở mỗi nơi họ được nghe những lý thuyết khác nhau, tương phản nhau, chống đối nhau về Thần Thánh. Từ đó nảy lên ý niêm Độc Thần, quan niệm ra một vị Thần duy nhất sẽ bảo bọc che chở cho họ ở bất cứ đâu. Nhưng phải đợi đến khi phát minh ra được loại sách được cuộn lại, những người du mục ấy mới có thể « bỏ túi » và mang các lý thuyết về vị Thần duy nhất ấy theo mình trên bước đường lang thang đây đó. Cùng với thuyết Độc Thần là quan niệm thời gian theo đường thẳng, thay vì theo chu kỳ, rồi quan niệm cứu độ, quan niệm tân tiến, tin tưởng ngày mai tốt đẹp hơn ngày hôm nay, quan niệm cách mạng, tức khả năng thay đổi hoàn toàn thực tại … Đấy, chỉ cần thay đổi phương tiện truyền đạt tư tưởng là thay đổi hẳn sự suy nghĩ của con người.
- Thế sau giai đoạn sách cuộn là gì, có phài là loại sách lật trang mà chúng ta hiện dùng ?
- Đúng vậy. Sau sách cuộn, rouleaux, là loại sách folio, gồm nhiều trang dán lại. Để rồi ngày nay, bước sang E Book, từ bỏ cách đọc theo đường thẳng.
- Tâm lý con người sẽ thay đổi ra sao với phương tiện truyền đạt kiến thức mới này ?
- Tôi nghĩ con người sẽ tìm được cái Tổng Thể trong sự phức biến. Thật vậy, từ bất cứ chữ nào trong bất cứ tài liệu hay câu chuyện nào, người ta cũng có thể được nối với vô số kiến thức, trong tuyệt đối là toàn bộ Hiểu Biết. Tức là từ bất cứ yếu tố phức biến nào trong thực tại, người ta cũng có được một « cửa vào » để khám phá ra Tổng Thể. Nếu người du mục đã tìm ra một ý niệm nào đó về Tổng Thể qua sự suy nghĩ về các vị Thần địa phương, tức những chuyện không có thật, thì con người hiện đại mang khả năng tìm đến Tổng Thể trong sự phức biến của sự vật cụ thể, có thật.
Một vị trong tham luận đoàn lên tiếng :
- Tuy nhiên , với trình độ kỹ thuật non kém của Việt Nam, đầu tư vào E Book, có nghĩa là đầu tư vào « phần cứng » của ngành vi tính, hoàn toàn không thuận lợi. Chúng ta có nhiều triển vọng hơn trong « phần mềm », không cần đầu tư tốn kém, chỉ cần trí tuệ, sáng kiến.
- Xin anh khai triển rõ hơn.
- Ai cũng biết trường hợp công ty Google, khởi đầu chỉ với hai sinh viên nghèo, nhưng với sáng kiến làm ra một thảo trình giúp xếp loại các dữ kiện tìm được trên mạng, đã trở thành một giá trị hàng đầu của lãnh vực truyền thông hiện đại. Một trường hợp khác cũng rất đáng được chú ý. Cách đây ít lâu, một công ty Maroc chỉ với vài nhân viên và số đầu tư hạn hẹp, đã phát minh ra được một giải pháp cho phép đưa hệ điều hành và các thảo trình cá nhân của mình vào trong một chiếc khóa USB, để đem sử dụng với bất cứ máy vi tính nào. Phát minh này được khai thác đầu tiên dưới ký hiệu U3, bởi công ty ScanDisk, trước khi nhiều công ty khác đưa ra những giải pháp tương tự. Với phát minh quan trọng này chúng ta có thể làm việc trên bất kỳ máy điện toán nào tại bất cứ đâu. Chỉ cần bỏ túi một chiếc khóa USB. Không còn cần vác theo laptop nữa ! Điều này chứng tỏ đối với những nước nghèo thì : « phần mềm » chính là vinh quang !
Tên sinh viên lúc nãy đã lấy lại vẻ rụt rè lúc ban đầu, ngập ngừng phát biểu :
- Thưa các chú, các bác, lúc nãy chúng ta có nói đến nhu cầu phát triển tính cá biệt trong lãnh vực truyền thông. Với E Book, hay nói chung, với bất cứ việc sử dụng mạng lưới toàn cầu nào, chúng ta cũng sẽ phát triển tính cá biệt.
Hội trường sợ cậu ta lại tràng giang đại hải với những lý luận rắc rối khó hiểu, nên vội vỗ tay kịch liệt để ngăn cu cậu lại. Tuy nhiên, chàng trai trẻ vốn dòng … họ Đỗ vưỡn thừa thắng xông lên :
- Thật vậy, không thể có hai người cùng lướt trên mạng như nhau. Mỗi cá nhân trên lưới đều sẽ theo một con đường cá biệt. Và dù cho họ có vào lưới ở cùng một điểm, họ cũng sẽ lấy những ngã rẽ khác nhau, tùy theo những quan tâm đặc biệt của họ. Thí dụ người này đọc E book sẽ ngừng lại tìm tòi thêm về chuyện này, người khác sẽ tìm hình ảnh hay video liên hệ đến chuyện khác, v.v…
Lần này khán giả hò reo rầm rĩ, át hẳn tiếng nói của anh chàng trẻ tuổi, nhưng chàng vẫn tiếp tục :
- Nền văn minh tin học và Internet được xã hội tư bản dựng lên, nhưng nó lại là một phủ định của Tư Bản Chủ Nghĩa. Trong môi trường tin học giá trị hàng hóa rất thường bị xóa bỏ. Chúng ta có thể lấy xuống từ mạng lưới rất nhiều sản phẩm hoàn toàn miễn phí : sách, báo, nhạc, tự điển, phim, thảo trình v.v… Mặt khác, một người có thể đem biếu cho hàng triệu người khác một món hàng loại này, mà vẫn không mất món hàng ấy, vẫn có thể giữ và sử dụng nó như trước, không giống với những gì xảy ra trong một xã hội hàng hóa cổ điển. Phủ định giá trị hàng hóa của sự vật chính là phủ định nến tảng của Tư Bản Chủ Nghĩa !
Thừa lúc diễn giả ngừng lời để lấy lại hơi thở, người điều khiển chương trình tuyên bố giới thiệu kế hoạch « scan » tất cả các sách vở tiếng Việt, lập nên một ngân hàng dữ kiện miễn phí, một lần nữa được xem như một phủ định của giá trị hàng hóa và Tư Bản Chủ Nghĩa. Chương trình Đại Hội ngày thứ nhất chấm dứt sau đó bởi một buổi tiếp tân trọng thể nơi đại sảnh của một khách sạn sang trọng kế bên Hội Trường.
---0---
Lễ trao giải Nobel Hòa Bình hiện diễn ra tại tòa thị chánh Oslo. Một cuộc phỏng vấn người lãnh giải, ông Muhammad Yunus, được giàn xếp.
Đứng hai bên vị « tân khoa » Nobel, là phu nhân và ái nữ của ông. Cô này là một ca sĩ nhạc cổ điển tài ba hiện đang cộng tác với Metropolitan Opera thành phố Nữu Ước. Quây quần quanh ông, còn có các anh em ông, vài chục nhân viên ngân hàng Grameen, và cả một số thân chủ, những người nghèo túng đã được ông giúp đỡ bằng cách cho vay tiền kinh doanh để thoát khỏi vực sâu đói kém. Gần đó người ta cũng nhìn thấy Quốc Vương Na Uy, Hoàng Hậu Tây Ban Nha, một số đại sứ và lãnh sự, các chức sắc địa phương … Rồi người đẹp Renée Fleming, tuyệt vời trong một ca khúc của Mozart. …
Mọi người đều nghẹn ngào cảm động khi nghe Muhammad Yunus nhắc lại con đường ông đã đi qua. Từ uất ức trào dâng trước nạn đói tàn sát dân ông năm 1974, đến sáng kiến vô cùng liều lĩnh đưa đến sự thành lập ngân hàng Grameen, chuyên cho người nghèo vay tiền. Ông đã không ngần ngại đương đầu với bọn phú hộ quyền thế, bọn chủ nợ ăn lời cắt cổ, làm giàu trên xương máu kẻ túng thiếu. Món tiền đầu tiên ông cho vay là 27 Mỹ Kim. Con nợ là một tổ hợp 40 phụ nữ sống cạnh Đại Học nơi ông giảng dạy … Ngày nay ngân hàng của ông hiện diện tại 70 ngàn ngôi làng hẻo lánh với hơn 7 triệu thân chủ. Ông không giấu được giọt lệ hãnh diện khi nhắc đến những người đàn bà từ bùn đen của xã hội ngoi lên được một địa vị xứng đáng, những trẻ em đói kém thất học, nay trở thành bác sĩ, kỹ sư …
Trả lời một câu hỏi đến từ Hội Trường, ông vắn tắt giải thích nguyên tắc của công việc « tiểu tín dụng » hiện bắt đầu được phổ biến trên thế giới. Tiểu tín dụng nằm trong khuôn khổ các kế hoạch « phát triển nội tại », tận dụng năng lực nội tại của các khu vực nghèo khó, để nâng cao mức sống của người dân. Các quỹ hay ngân hàng tiểu tín dụng huy động vốn để giúp những người thiếu thốn phương tiện có thể thực hiện những dự án phát triển nhỏ dựa trên tài nguyên mà họ có được tại chỗ. Các dự án này đáp ứng đúng với nhu cầu của người dân, không phải từ trên phán xuống, nên không lãng phí tài nguyên, không bị những trung gian ăn chặn, và luôn được sự ủng hộ hợp tác của mọi người.
Kết thúc cuộc phỏng vấn, ông hùng hồn biện minh cho một niềm tin : niềm tin sẽ có ngày đẩy lùi được nạn nghèo đói, cho mọi con người đều có được cơ hội sống một đời sống xứng đáng với nhân cách của mình.
Cuộc phỏng vấn chấm dứt. Màn ảnh vụt tắt trong sự im lặng đầy suy tư của hội trường. Một lúc sau, ông cụ đã phát biểu sau bài thuyết trình đầu tiên lại lên tiếng :
- Các cậu bàn về tương lai. Cái ông này mới chính thực là tương lai đấy !
- Ông ta lo cho người nghèo, như Mẹ Theresa, như Phanxicô thành Assise, Vincent de Paul, Công Nương Diana, Sư Cô Mạn Đà La … vâng, vâng, bỏ sư cô Mạn Đà La … xin lỗi … và nhiều người khác, đâu có gì để cho rằng ông ta là tương lai. Mà tương lai của cái gì mới được chứ ?
- Ngành truyền thông muốn tìm một hướng đi hữu ích trong tương lai. Đây là một hướng đi hữu ích.
- Tuy nhiên, tôi không nhìn thấy liên hệ giữa ngành truyền thông với ngân hàng tiểu tín dụng giúp người nghèo. Ngân hàng đâu phải là công việc của chúng ta …
- Ngân hàng tiểu tín dụng xây dựng trên hệ thống internet làm giảm thiểu phần lớn chi phí điều hành. Thông thường các cơ quan thiện nguyện sử dụng trên dưới 50 phần trăm ngân quỹ, tức các món tiền do người hảo tâm quyên góp và các trợ cấp chính phủ, cho chi phí điều hành. Nào trả lương nhân viên, chuyên viên, nào trả chi phí di chuyển, ăn ở, tiền phụ trội v.v… mỗi khi gửi người đến tại chỗ nghiên cứu và theo dõi các dự án. Có lúc Hồng Thập Tự Pháp dùng đến hơn 70 phần trăm ngân quỹ vào các chi phí loại này. Số tiền đến tay người nghèo không còn được bao nhiêu
- Mạng lưới toàn cầu giúp được điều gì ?
- Internet khiến cho không còn cần gửi chuyên viên từ Nữu Ước hay Paris đến những làng mạc xa xôi ở Phi Châu hay Việt Nam nữa. Không còn có chuyện mấy ông « công chức từ thiện » ăn dầm nằm dề ở các nước nghèo tiêu tốn hàng triệu Mỹ Kim. Chỉ cần qua mạng lưới tuyển người ở gần đó đến nghiên cứu, điều hợp, theo dõi các dự án. Báo cáo với phim ảnh được gửi trở lại cũng qua mạng lưới. Người ký thác tiền vào ngân hàng để cho người nghèo vay cũng có thể được « tuyển mộ » qua internet. Những người ấy theo dõi các đầu tư của minh trên mạng, có thể trực tiếp liên lạc với địa phương đang thực hiện dự án. Ngoài ra mọi người trên thế giới đều có thể tham gia vào những gì đang được thực hiện, đóng góp những kiến thức chuyên môn, những sáng kiến, đề nghị những giải pháp v.v… Các trang nhà của chúng ta nên có một đề mục về tiểu tín dụng và « phát triển nội tại », kêu gọi và nối kết những sáng kiến và dự án cho Việt Nam.
Đến giờ nghỉ giải lao. Mọi người rời phòng họp. Hai vị trong tham luận đoàn còn nấn ná ngồi lại. Một ông gật gù :
- Theo cái ông Yunus này là quay lưng lại với khái niệm « phát triển kinh tế » đấy ông ơi !
- Vậy sao ?
- Tôi nghe là lúc học Trường Vanderbilt ở Tennessee, ông ta trình luận án với Giáo Sư Nicholas Georgescu-Roegen, một nhân vật chủ trương phải ngừng phát triển kinh tế để thay thế bằng một tiến trình thoái hậu có tổ chức.
- Lại vấn đề ô nhiễm ?
- Ừ, ô nhiễm, tàn phá môi trường sống, khánh tận tài nguyên thiên nhiên … Phát triển kinh tế theo mô thức chạy đua sản xuất, chạy đua tiêu thụ sẽ đưa đến hủy diệt loài người. Theo mấy ông này
Cũng nghe loáng thoáng một giọng con gái trong hàng người đang tiến lại gần quầy nước :
- Hổng hiểu Mạn Là Đà là kí gì mà dzừa nghe nói tới là người ta la góa chừng chừng ?
- Ừa, hổng hiểu …
---0---
Chương trình tiếp tục với hai dự án. Dự án đầu tiên do một nhân vật, họ Đỗ, đến từ Nhật Bản, chủ trương một « tự điển thông minh ». Sáng kiến này khởi đầu từ nhận xét rằng các tự điển định nghĩa rất nhiều chữ bằng một số chữ khác, các chữ này lại phải được định nghĩa bởi những chữ khác nữa, và cứ như thế tiếp tục, cho đến khi trở lại chữ đầu tiên. Đó là hiện tượng « định nghĩa xoay tròn ». Thí dụ « xã hội » được định nghĩa là một tập hợp cá nhân được tổ chức theo một mô thức nào đó. Đến phiên « cá nhân » được định nghĩa như đơn vị không thể chia cách của một xã hội. Sự xoay tròn có thể phức tạp hơn, như « hòa bình » là tình trạng không có chiến tranh. « Chiến tranh » là một sự tranh chấp bằng vũ lực giữa hai nhóm người. « Tranh chấp » là trạng thái gián đoạn sự đồng thuận. « Đồng thuận » là nền tảng của hòa bình và hợp tác do sự thỏa hiệp giữa các cá nhân hay nhóm người. Rốt cuộc trở lại chữ « hòa bình ». Giải pháp được đề nghị là bỏ qua không định nghĩa những chữ mà ai cũng hiểu. Thí dụ « người », « trời », « vợ », « chồng » v.v… mặc dù phải công nhận là ít ai biết « chồng » có nghĩa là « chồng lên trên » ! Ngoài ra, khi gặp những cặp đối nghịch cố hữu, như Tư Bản và Cộng Sản thì chỉ cẩn đảo ngược định nghĩa của một trong hai khái niệm. Thí dụ : nếu định nghĩa Tư Bản là « người bóc lột người », thì Cộng Sản là ngược lại. Rồi cũng cần có những định nghĩa thực dụng. Thí dụ muốn định nghĩa báo Thời Luận thì không gì bằng in ra một phiếu mua báo dài hạn để đọc giả có thể điền vào đó để được cầm trên tay tờ báo. Thật ra, ngoài trường hợp ngoại lệ của báo Thời Luận, trên nguyên tắc, Tự Điển Thông Minh chỉ hạn chế trong phạm trù khái niệm, chứ không bàn đến các chữ chỉ vào những điều cụ thể. Lý do vì những chữ này đều sẽ bắt buộc phải quay trở về với các khái niệm. Ở điểm này, Tự Điển Thông Minh lập tức bị chỉ trích. Thí dụ chữ Sở Khanh bị loại bỏ vì chỉ một nhân vật cụ thể, nhưng thật ra lại thường được dùng để chỉ một khái niệm, cũng như chén cơm Phiếu Mẫu, con ngựa thành Troie, hay lời hứa Cuội …
Dự án kế tiếp chủ trương từ bỏ ngôn ngữ, chỉ dùng hình ảnh để trao đổi. Người thuyết trình dự trù ấn hành một quyển sách chỉ gồm toàn hình ảnh, thu gọn tất cả những gì con người có thể trao đổi với nhau trong một số môi trường và điều kiện nào đó mà không cần lệ thuộc ngôn ngữ. Rất tiện khi đến một vùng nào đó mà mình không biết tiếng nói. Thí dụ chỉ vào hình vẽ chén cơm có nghĩa là « tôi muốn ăn cơm ». Chỉ vào hình một chiếc xe đò có nghĩa là « tôi muốn tìm bến xe đò » v.v… Tuy nhiên những người phản bác sáng kiến này lại cho rằng một hình ảnh có khả năng gợi lên nhiều ý tưởng trái ngược nhau, và nếu không có ngôn ngữ kèm theo, thì không thể nào hiểu nhau được. Chỉ chén cơm có thể có nghĩa rằng tôi muốn tìm chỗ ăn cơm, hay là tôi rủ anh đi ăn cơm, hay ăn cơm mãi chán chết, chúng ta đi ăn mì, hay ở đây có bán những cái chén dùng để ăn cơm trông rất đẹp mắt v.v… Thêm vào đó, « ăn cơm » chỉ có nghĩa là « dùng bữa » đối với người Việt và người Tàu chứ không có nghĩa đó trong các văn hóa khác. Những người này quả quyết trào lưu nâng hình ảnh lên địa vị độc tôn chung quy chỉ là một … ảo ảnh !
Để tránh những tranh luận dài dòng, người điều khiển chương trình vội giới thiệu tiết mục tiếp theo : một phóng sự về công đoàn độc lập tại Việt Nam.
---0---
Trước khi trình chiếu phóng sự và trực tiếp truyền hình phỏng vấn vị lãnh đạo Công Đoàn độc lập, người giới thiệu đề tài lên diễn đàn tràng giang đại hải thuyết giảng về tầm quan trọng của công đoàn trong xã hội Việt Nam hiện tại. Đại khái xã hội Việt Nam ngày nay không còn là một xã hội Cộng Sản nữa, khiến việc chỉ trích chủ nghĩa Cộng Sản không còn cần thiết. Ngược lại, Việt Nam đã trở thành một xã hội nêu cao ngọn cờ Tư Bản Chủ Nghĩa hơn ai hết. Sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (WTO), một trong những cơ cấu điều hành Thị Trường Tư Bản trên thế giới, cho thấy mặc dù còn những yếu kém, Việt Nam sẽ khẩn trương « học tập tốt, cải tạo tốt » để trở thành một học trò gương mẫu trong lớp học Tư Bản Chủ Nghĩa. Tuy nhiên Tư Bản Chủ Nghĩa ở Việt Nam là « Tư bản rừng rú », không có đối trọng (thí dụ công đoàn độc lập), không bảo đảm được những phúc lợi nền tảng cho người dân (về giáo dục, về an sinh xã hội v.v…), không đem lại cho họ những cơ hội đồng đều. Đại khái Việt Nam đi trên con đường của các xã hội tư bản Âu Châu cuối thế kỷ 19, vào thời Karl Marx, Charles Dickens … với những bất công tương tự. Vì thế, hành động của những người thiện chí phải hướng vào người nghèo, người bị bóc lột. Chưa giúp gì được cho họ mà cứ hô hào kêu gọi họ hy sinh gian khổ đấu tranh cho mình lên nắm quyền, thì chỉ là diễn lại vở tuồng bánh vẽ mà người dân đã quá kinh nghiệm …
Có những tiếng la ó phản đối. Rồi một người lên tiếng :
- Tôi không đồng ý ! Công Đoàn, dù độc lập, sẽ chỉ là một giải pháp hư ảo. Xã hội Việt Nam sẽ không khá được nếu không thay đổi chế độ cầm quyền. Giả sử Việt Nam giống như các xã hội Tư Bản Rừng Rú của thế kỷ 19 đi nữa, thì Công Đoàn sẽ có hiệu quả gì ? Chẳng phải các công đoàn đã cứu sống các chế độ tư bản rừng rú Tây Phương hay sao ? Nếu không có một sự thỏa hiệp chủ thợ qua các công đoàn, thì các xã hội tư bản này đã bị nhận chìm trong đấu tranh xã hội rồi !
Người khác nói :
- Nếu nghĩ như thế thì có thể chính quyền Việt Nam hiện tại đã bày ra công đoàn độc lập này để tự cứu mình ?
Người giới thiệu đề tài trả lời, với giọng hơi khó chịu :
- Chúng ta không ủng hộ một tổ chức mà ủng hộ một khuynh hướng, một đường lối hành động. Tổ chức này không thành công, không chính đáng, thì sẽ có muôn ngàn tổ chức khác thay thế !
Một người lớn tuổi :
- Thế các cậu có nghĩ phát động đấu tranh kiểu này là quá sớm không ? Việt Nam hiện đang trên đà phát triển mạnh mẽ, người dân đặt nhiều hy vọng trên tiến trình này, nên trong sự chủ quan của họ, ý thức bóc lột, ý thức đấu tranh, sợ rằng chưa đủ mạnh ?
- Đúng thế, tôi hoàn toàn đồng ý. Người dân chỉ sẵn sàng đấu tranh khi tình trạng kinh tế của họ sa sút trầm trọng và không có hy vọng tiến triển.
Người khác xen vào :
- Tại sao phải có khủng hoảng mới có ý thức bóc lột và ý chí đấu tranh ? Đấu tranh là do ý thức bất công, bóc lột, do chứng kiến những tệ đoan, những chuyện chướng ta gai mắt chứ ?
Chàng sinh viên trẻ tuổi :
- Vì trong tình trạng khan hiếm, thiếu thốn, khiến sự dành dựt trở thành mạnh mẽ, thì ý thức đấu tranh mới rõ nét. Người ta dành dựt lẫn nhau kịch liệt rồi mới nhận rõ ai là người dành dựt mạnh nhất, tức là : thành phần bóc lột. Khi ấy, mới tính chuyện liên kết đấu tranh chống lại thành phần này. Thêm vào đó, có khủng hoảng trầm trọng người dân mới thấy tương lai bế tắc, không hy vọng được gì nơi sự nối dài của "tình trạng hiện hữu » - chữ Etat, State, cũng có nghĩa là "hiện trạng" - và do đó, mới sẵn sàng hy sinh đấu tranh. Hiện Việt Nam đang tăng trưởng kinh tế, chưa có những điều kiện này .Vậy, đấu tranh lật đổ "hiện trạng", Etat, State, sẽ chỉ xảy ra khi có khủng hoảng.
- Tuy nhiên, phải có cấu trúc mới có đấu tranh. Cấu trúc, như nghiệp đoàn, là môi trường kết tụ những ước vọng, đòi hỏi, thôi thúc đấu tranh, khi bất công, bóc lột, vượt quá một giới hạn nào đó. Nếu nói rằng xã hội tư bản man rợ là một xã hội bóc lột, bất công, duy lợi và phi nhân, thì phải có những cấu trúc như nghiệp đoàn để đón nhận những ước vọng và đòi hỏi của người dân. Tôi không hiểu vì sao lại nói được là « quá sớm » ?
Một người trung niên quắc thước, râu hùm hàm én, mắt sáng như sao, cất giọng sang sảng như chuông đồng :
- Mấy ông này ! Bàn chuyện đời sống của người dân mà cứ như tính chuyện đầu tư trên thị trường chứng khoán ! Nào là « đã đến lúc » hay « quá sớm », sắp có triển vọng, hay còn phải chờ đợi, sẽ lên, sẽ xuống … Các ông lo cho người dân hay lo cho sự nghiệp các ông ?
Nói xong, người ấy rũ áo bỏ đi, không nhìn lại.
---0---
Chủ tọa đoàn và tham luận đoàn lên ngồi đầy đủ, sửa soạn đúc kết Đại Hội. Mỗi người phát biểu ngắn gọn vài câu, sau khi một thuyết trình viên được chỉ định trình bày bản đúc kết chính thức.
Nghe bản thuyết trình, người ta ghi nhớ sự cần thiết của khái niệm « Nối Kết » trong thế giới hiện đại, được hỗ trợ bởi các kỹ thuật truyền thông tân tiến. Xin tóm tắt :
Trong phạm vi một xã hội, người dân một tỉnh, một vùng, một nước, thậm chí học sinh hay cựu học sinh một trường, các người quan tâm đến một đề tài, v.v… đều có thể nối kết với nhau qua mạng lưới internet, mạng lưới điện thoại lưu động, với SMS và những kỹ thuật khác, để kết tụ thành những hệ thống dần dần đi đến một trình độ tổ chức đủ để hành động một cách hiệu quả cho những vấn đề liên quan đến đời sống hay quan tâm của họ. Họ có thể giúp nhau tìm việc làm, thực hiện một dự án tiểu công nghiệp, tiểu tín dụng, một công trình từ thiện, giải quyết một vấn đề ô nhiễm, tìm một nguồn đầu tư, một « đầu ra » cho xuất cảng, tranh đấu chống một sự bất công … Cần tạo nên những mạng lưới, những diễn đàn, theo chiều hướng thực dụng này. Một hình thức quan trọng của xã hội công dân có thể hình thành từ đó, đối trọng với vai trò của nhà nước, đặc biệt là những nhà nước độc tài, hay tham nhũng, thiếu khả năng giải quyết một cách hiệu quả những khó khăn của đời sống dân chúng.
Trong phạm vi toàn cầu, hệ thống liên mạng cũng hỗ trợ cho việc nối kết những người thiện chí để giúp đỡ lẫn nhau, bằng cách góp vốn, góp phương tiện, góp kiến thức. Nhiều mục tiêu vượt trên ranh giới quốc gia cũng có thể được hỗ trợ bởi những kỹ thuật truyền thông tân tiến. Khi kinh tế thị trường vượt trên mọi ranh giới quốc gia, và áp đặt quy luật của mình trên các quốc gia, kể cả các quốc gia dân chủ, thì một « xã hội công dân toàn cầu » là một điều vô cùng cần thiết. Đó chính là đối trọng của kinh tế thị trường.
Hệ thống liên mạng cũng là đối trọng của kinh tế thị trường khi nó cho phép trao đổi một số hàng hóa một cách miễn phí, hay với giá rất rẻ, với rất nhiều người, xóa bỏ giá trị tiền bạc của những hàng hóa ấy. Các kỹ thuật truyền thông qua Internet cũng giúp tránh né phần nào sự lệ thuộc của ngành truyền thông cổ điển vào các kế sách thương mại, thúc đẩy tiêu thụ, vì các kỹ thuật này giúp cho mỗi cá nhân được dịp tham gia một cách chủ động vào việc lựa chọn những gì họ muốn xem, muốn biết, thay vì để cho các phương tiện truyền thông nhét vào đầu họ những chuyện đã được sắp đặt sẵn. Điều này cần thiết cho việc phát huy ý thức công dân, tức những người biết tự mình suy nghĩ, tự mình hành động cho những nhu cầu và quan tâm cụ thể của mình, không bị lệ thuộc, bị điều kiện hóa. Nó cũng cần thiết cho Dân Chủ, vì Dân Chủ chỉ thực sự có ý nghĩa khi là một đồng thuận giữa những người dân có tự do thực sự, không bị điều kiện hóa, không bị dẫn dắt đi qua đi lại như một bầy cừu …
Trong các tiểu tham luận sau đó người ta chú ý đến vài phát biểu sâu sắc của vài ông Đỗ vốn vẫn được sự kính trọng của dư luận. Bàn đến việc hệ thống liên mạng phải lệ thuộc vào các máy vi tính quá đắt tiền đối với người nghèo, một ông nói :
- Ở Việt Nam cũng như ở tại nhiều nước nghèo, các tiệm dịch vụ điện toán có mặt trong mọi hang cùng ngõ hẻm, và có khuynh hướng mỗi ngày một thêm phát triển. Ở nhiều nơi, tôi thấy những bàn phím mờ hẳn đi, phải dương mắt nhìn kỹ lắm mới đoán được các chữ, số, từng được ghi trên đó. Chứng tỏ các máy vi tính ấy được sử dụng rất nhiều. Tôi tin là chỉ cần các máy vi tính đến gần người nghèo là đủ để họ có thể hưởng được những lợi dụng của các kỹ thuật truyền thông tân tiến.
Một ông khác :
- Nhu cầu Nối Kết và đề mục của Đại Hội về công đoàn độc lập tại Việt Nam làm tôi liên tưởng đến việc một Công Đoàn Quốc Tế vừa ra đời, quy tụ 190 triệu công nhân thuộc 360 công đoàn trên 150 quốc gia. Tôi hoàn toàn đồng ý là trong bối cảnh « toàn cầu hóa », khi nền kinh tế thị trường không biên giới áp đặt quyền lực của nó trên các chính quyền bị trói tay bởi những ranh giới quốc gia, thì sự hình thành một tổ chức thợ thuyền cao hơn tầm mức hạn hẹp của riêng một nước, nhằm bảo vệ quyền lợi của người làm công, là một bước ngoặt quan trọng. Những người thấp cổ bé miệng ở những nước nghèo có thêm một niềm hy vọng mới. Đừng quên : nâng cao mức sống của người công nhân chính là làm giàu cho cả nước và cũng là gia tăng mức độ dân chủ. Vốn liếng quý giá nhất của một quốc gia không gì khác hơn là « lực lượng sản xuất » của quốc gia ấy !
Vị chủ tọa tuyên bố bế mạc đại hội sau một diễn từ ngắn. Ông liệt kê và phân phối các công tác chủ yếu, nhằm vào các kỹ thuật truyền thông tân tiến và những áp dụng của chúng trong bối cảnh xã hội hiện đại, cho các chi tộc hiện diện của giòng họ Đỗ.
Mọi người hoan hỷ đứng dậy ra về trong niềm tin : Đỗ Tộc chính là tương lai của Đất Nước và của … toàn Nhân Loại !
NGUYỄN Hoài Vân
Tân niên 2007
|