Trước hết chúng ta hãy nhìn lại một kinh nghiệm lịch sử : trường hợp đế quốc quân phiệt Nhật Bản. Nhật Bản vào đầu thế kỷ 20, nhờ nỗ lực tân tiến hóa, đã trở nên giàu mạnh. Đồng thời cũng nảy sinh một tâm lý kiêu hùng. Họ suy nghĩ theo lý thuyết "không gian sinh tồn", và phát minh ra chủ trương "Đại Đông Á của người Á Đông" để phục vụ cho tham vọng bành trướng của họ. Bành trướng đối với họ là bành trướng lãnh thổ (đế quốc), và phương tiện được chọn là sức mạnh quân sự. Kết quả ra sao, chúng ta đã biết.
Sau thảm họa đệ nhị thế chiến, người Nhật không từ bỏ nỗ lực bành trướng. Nhưng bành trướng lãnh thổ đã trở thành bành trướng thị trường, và bá quyền dựa trên sức mạnh quân sự trở thành phát triển kinh tế. Họ xuất cảng công ăn việc làm đến toàn vùng Đông Á, tạo phú hữu cho nhiều quốc gia có thể trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của họ. Nam Hàn là một thí dụ rực rỡ.
Trung Hoa ngày nay cũng đã nhờ nỗ lực tân tiến hóa để trở nên giàu mạnh. Sức mạnh của Trung Hoa không dựa trên khả năng quân sự, mà dựa trên những ưu điểm về kinh tế. Chủ nghĩa đã đưa Trung Quốc lên địa vị cường quốc hiện tại là "chủ nghĩa con buôn" (mercantilism). Chính sách của Trung Hoa nhằm phục vụ cho chủ nghĩa ấy là chính sách hoà hoãn với mọi người để trục lợi. Người ta gọi đó chính sách ngoại giao « đa phương » (multilateralism).
Chủ nghĩa bá quyền chỉ đem lại những tai hại cho Trung Quốc. Thật vậy, hai yếu tố quan trọng nhất đối với Trung Quốc hiện nay là nguyên liệu và thị trường. Áp dụng một chính sách bá quyền bành trướng lãnh thổ đưa đến việc phải cáng đáng thêm một số nhà máy trên các lãnh thổ vừa chiếm đoạt. Khi nguyên liệu càng ngày càng thiếu hụt cho những nhà máy Trung Quốc hiện có, và đang cần kiến tạo thêm để cố giảm bớt nạn thất nghiệp, thì việc đèo thêm trách nhiệm chu cấp nguyên liệu cho một số nhà máy phụ trội trên những đất nước khác (*), là hoàn toàn bất lợi. Mặt khác, dùng sức mạnh quân sự để chiếm đoạt và duy trì sự thống trị của mình trên một quốc gia, dù là để chiếm đoạt nguyên liệu và tài nguyên của quốc gia ấy, sẽ đắt tiền hơn là giữ một liên hệ ngoại giao tốt đẹp để mua của quốc gia này số nguyên liệu và tài nguyên mà mình cần. Trên phương diện thị trường thì chiếm đóng một lãnh thổ để bóc lột người dân ở đó là làm mất đi một thị trường. Những người bị bóc lột, theo định nghĩa, sẽ nghèo đi, và không thể càng ngày càng mua thêm hàng hoá của Trung Quốc. Sức tiêu thụ của họ suy giảm có nghĩa là số hàng Trung Quốc bán được suy giảm, Trung Quốc phải nghèo đi, với số người thất nghiệp gia tăng … Ngược lại, Trung Quốc có lợi khi đem lại cơ hội phát triển cho các nước có nhiều liên hệ với mình, tạo nên những vùng thịnh vượng, tăng cường phú hữu cho những dân tộc sẽ trở thành khách hàng tốt của mình. Nhật Bản đã làm như thế, và đã thành công ! Đó là chưa kể đến ảnh hưởng tâm lý vô cùng xấu xa của một chủ nghĩa bá quyền trên phương diện thương mại. . Không quốc gia nào hiện hữu cô lập trên thế giới. Như mọi con người, ai cũng có bè bạn, họ hàng … Vì thế, chỉ cần đụng đến một dân tộc là sẽ kéo theo một chuỗi phản ứng vô cùng bất lợi cho việc buôc bán, với những mất mát về lợi nhuận không thể lường được. Trung Quốc vốn hiểu điều ấy, nên cho đến ngày nay vẫn thực thi một chính sách ngoại giao « đa phương ». Tuy nhiên, có những dấu hiệu của một chủ nghĩa bá quyền đang muốn nổi lên. Mặc dù những tai hại rất dễ nhận ra. Vì sao ? Có lẽ vì không có lý luận hay hiểu biết nào thuyết phục nổi những người … đần độn !
(*) Việc Trung Quốc hiện áp dụng một thái độ « bá quyền nội địa » đối với Tây Tạng, Tân Cương … bên cạnh nhiều nguyên do khác, còn có một nguyên do kinh tế đơn giản : những vùng đất bao la ấy quá ít dân so với số lượng tài nguyên, nên đứng trên quan điểm của Trung Quốc, việc đưa thêm dân đến để khai thác chúng, hoàn toàn có lợi cho mục tiêu phát triển.